Xuất bản 04-2026
HÒA PHÁT LÃI ĐỘT PHÁ 9.056 TỶ ĐỒNG QUÝ I/2026, NHƯNG 42% ĐẾN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG DỰ ÁN: PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH THÉP
Quý I/2026, sản lượng thép xây dựng toàn ngành đạt 3,726 triệu tấn, tăng 24,1% so với cùng kỳ; lượng tiêu thụ đạt 3,97 triệu tấn, tăng 29%. Tuy nhiên, xuất khẩu lại giảm 26%. Trong cùng quý, Tập đoàn Hòa Phát công bố lợi nhuận sau thuế 9.056 tỷ đồng, tăng 170% so với cùng kỳ, nhưng 3.800 tỷ trong số đó (42%) đến từ chuyển nhượng dự án bất động sản tại Phố Nối, Hưng Yên. Bài phân tích này tách bạch giữa tăng trưởng cốt lõi và lợi nhuận một lần, đặt câu hỏi về chất lượng tăng trưởng thực của ngành thép trong giai đoạn đầu của siêu chu kỳ đầu tư hạ tầng 2026-2030.
1. Tiêu thụ nội địa bứt phá nhưng xuất khẩu lao dốc 26%
Theo báo cáo của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) công bố ngày 27/04/2026, ngành thép Q1/2026 ghi nhận sự bứt phá ấn tượng tại thị trường nội địa. Sản xuất thép xây dựng đạt 3,726 triệu tấn, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Lượng bán ra đạt 3,97 triệu tấn, tăng 29%. Riêng tháng 3/2026, các doanh nghiệp thành viên VSA tiêu thụ hơn 1,5 triệu tấn thép xây dựng, tăng gần 16% so với cùng kỳ và cao gấp rưỡi so với tháng 2/2026 (tháng có lịch nghỉ Tết Nguyên đán). Đáng chú ý, lượng bán ra trong tháng 3 thậm chí cao hơn lượng sản xuất khoảng 1,34 triệu tấn, phản ánh tâm lý dự trữ sau Tết và sự ấm lại của thị trường bất động sản dân dụng.
Tuy nhiên, bức tranh chuyển sang gam màu tối ngay khi nhìn ra khỏi thị trường nội địa. Sản lượng xuất khẩu Q1/2026 giảm 26% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân cốt lõi đến từ biến động chi phí logistics. Chi phí vận chuyển đường biển tăng 15-30% so với kế hoạch ban đầu, sau khi xung đột Trung Đông từ cuối tháng 02/2026 buộc các hãng tàu chuyển hướng qua Mũi Hảo Vọng. Nhiều doanh nghiệp thép đã rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: hợp đồng xuất khẩu đã chốt giá FOB nhưng giá cước tàu chốt sau lại tăng vọt, dẫn đến rủi ro giá FOB thực tế thấp hơn giá bán nội địa. Gánh nặng logistics buộc thép Việt Nam suy giảm năng lực cạnh tranh về giá so với các đối thủ khu vực, gây trở ngại trong việc xác lập các hợp đồng dài hạn.
Hai dòng dữ liệu trái chiều này phản ánh một đặc điểm cấu trúc: ngành thép Việt Nam đang ở giai đoạn dịch chuyển động lực tăng trưởng từ thị trường quốc tế sang thị trường nội địa, một bức tranh hồ sơ ngành chi tiết có thể tham khảo tại baocaonganh.com.
Bảng 1. Sản lượng và tiêu thụ thép xây dựng Q1/2026 so với Q1/2025
|
Chỉ tiêu |
Q1/2025 (ước) |
Q1/2026 |
Biến động |
|
Sản xuất thép xây dựng (triệu tấn) |
3,003 |
3,726 |
+24,1% |
|
Tiêu thụ thép xây dựng (triệu tấn) |
3,078 |
3,97 |
+29,0% |
|
Tiêu thụ tháng 3 đơn lẻ (triệu tấn) |
~1,29 |
>1,5 |
+16% |
|
Xuất khẩu thép |
(nền cao) |
(giảm) |
-26,0% |
Nguồn: Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), báo cáo Q1/2026 công bố ngày 27/04/2026.
VSA dự báo cả năm 2026 ngành thép Việt Nam tăng trưởng 8-10%, sản xuất thép thành phẩm đạt khoảng 33-34,5 triệu tấn, tiêu thụ nội địa ước khoảng 26 triệu tấn. Đây là kịch bản tham vọng, dựa trên ba trụ cột: giải ngân đầu tư công cho cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 2 cùng sân bay quốc tế Long Thành, phục hồi bất động sản dân dụng, và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bảo vệ thị trường nội địa.
2. Khoản lãi 9.056 tỷ và phần cốt lõi thực sự là bao nhiêu
Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 tổ chức sáng ngày 21/04/2026 tại Hà Nội, Tập đoàn Hòa Phát (mã HPG) công bố kết quả Q1/2026 vượt mọi dự báo của các công ty chứng khoán. Doanh thu đạt hơn 53.500 tỷ đồng, tăng 40% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 9.056 tỷ đồng, tăng 170% so với Q1/2025. Mức lợi nhuận này tương đương gần 41% kế hoạch cả năm chỉ sau một quý vận hành.
Tuy nhiên, ngay tại Đại hội, Chủ tịch Trần Đình Long đã chủ động tách bạch cấu thành lợi nhuận. Trong tổng số 9.056 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, phần đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi (sản xuất và kinh doanh thép) là 5.200 tỷ đồng. Phần còn lại, khoảng 3.800 tỷ đồng, đến từ chuyển nhượng dự án bất động sản tại Phố Nối, Hưng Yên cho một đơn vị khác. Theo các báo cáo phân tích của VDSC và HSC trước Đại hội, khoản chuyển nhượng này đã được dự báo với biên độ 1.000 đến 2.000 tỷ đồng. Con số thực tế 3.800 tỷ đã vượt mức trần dự phóng gần gấp đôi.
Khi tách 3.800 tỷ ra khỏi tổng lợi nhuận, mảng thép cốt lõi vẫn tăng trưởng ấn tượng. Mức 5.200 tỷ đồng cao hơn 55% so với cùng kỳ Q1/2025. Sản lượng thép xây dựng đạt 888 nghìn tấn, tăng 29% so với cùng kỳ. Sản lượng thép cuộn cán nóng (HRC) đạt 906 nghìn tấn, tăng 82% nhờ sự vận hành ổn định của Khu liên hợp gang thép Dung Quất 2. Đáng chú ý, thị phần HRC nội địa của Hòa Phát tăng từ 47% lên 63% chỉ trong hai tháng đầu năm, phản ánh mức độ chiếm lĩnh thị trường gần như tuyệt đối.
Sự khác biệt giữa hai cách đọc số liệu là đáng kể. Nếu nhìn vào con số tổng (170% tăng trưởng), thị trường có thể hiểu nhầm về xu hướng. Nếu nhìn vào lợi nhuận cốt lõi tăng 55%, bức tranh trở nên hợp lý và bền vững hơn. Hồ sơ tài chính chi tiết của Hòa Phát có thể tra cứu tại baocaocongty.com.
Bảng 2. Cấu thành lợi nhuận sau thuế Hòa Phát Q1/2026
|
Cấu phần |
Giá trị (tỷ VND) |
Tỷ trọng |
Tăng trưởng YoY |
|
Lợi nhuận hoạt động cốt lõi (thép) |
5.200 |
57,4% |
+55% |
|
Lợi nhuận chuyển nhượng dự án Phố Nối |
3.800 |
41,9% |
bất thường |
|
Khác |
56 |
0,7% |
n/a |
|
Tổng LNST |
9.056 |
100% |
+170% |
|
Doanh thu |
53.500 |
n/a |
+40% |
|
Sản lượng thép xây dựng (nghìn tấn) |
888 |
n/a |
+29% |
|
Sản lượng HRC (nghìn tấn) |
906 |
n/a |
+82% |
|
Thị phần HRC nội địa |
63% (từ 47%) |
n/a |
+16 điểm |
Nguồn: Phát biểu của Chủ tịch Trần Đình Long tại ĐHĐCĐ thường niên Hòa Phát 21/04/2026; số liệu sản lượng theo VDSC, MBS.
3. Dự án Phố Nối Hưng Yên: hơn 20 năm để đến một khoản chuyển nhượng 3.800 tỷ
Khoản lợi nhuận bất thường 3.800 tỷ đồng có nguồn gốc từ Khu đô thị phía Bắc Quốc lộ 5, một dự án mà tỉnh Hưng Yên đã giao cho công ty con của Hòa Phát từ năm 2004, hơn 20 năm trước. Dự án nằm tại thị trấn Bần Yên Nhân, huyện Mỹ Hào (cũ), với tổng diện tích hơn 800 ha chia làm 3 phân khu. Phân khu A do Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Hòa Phát (gọi tắt Đô thị Hòa Phát) làm chủ đầu tư. Hòa Phát hiện nắm 99,95% lợi ích kinh tế tại Đô thị Hòa Phát (vốn điều lệ 4.800 tỷ đồng).
Quy mô sản phẩm của dự án rất lớn: 3.811 căn nhà ở thương mại liền kề, 398 căn biệt thự, 11.807 căn hộ chung cư, 8.666 căn nhà ở xã hội, cùng văn phòng và mặt bằng thương mại. Tổng vốn đầu tư công bố cho phần Hòa Phát phụ trách rơi vào khoảng 1,4 tỷ USD. Theo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại phân khu A tính đến ngày 31/12/2025 là 1.747 tỷ đồng.
Diễn biến pháp lý đáng chú ý: trong năm 2025, Công ty Cổ phần Phát triển Khu Đô thị Xanh, một công ty con khác của Hòa Phát, đã được UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt làm nhà đầu tư cho dự án Bắc Quốc lộ 5 theo Quyết định số 1618/QĐ-UBND ngày 27/06/2025. Khoản chuyển nhượng phát sinh trong Q1/2026 đến từ giao dịch nội bộ giữa các đơn vị liên quan trong cấu trúc tập đoàn, hoặc từ giao dịch với bên thứ ba khác. Báo cáo tài chính Q1/2026 đầy đủ chưa được công bố tại thời điểm Đại hội, dẫn đến chi tiết về bên nhận chuyển nhượng vẫn chưa được làm rõ.
Một điểm cần ghi nhận: dự án này từng vướng vào kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ. Cơ quan này đã đề nghị UBND tỉnh Hưng Yên thu hồi Văn bản số 1488/UBND-KT1 ngày 14/07/2016 về việc tiếp tục giao Đô thị Hòa Phát làm chủ đầu tư, đồng thời yêu cầu rà soát hồ sơ pháp lý để đấu giá lựa chọn lại nhà đầu tư theo quy định. Quyết định 1618/QĐ-UBND năm 2025 phản ánh kết quả của quá trình rà soát đó.
Đối với phân tích tín nhiệm, khoản 3.800 tỷ này mang tính một lần và không nên được dự phóng cho các quý tiếp theo. Tuy nhiên, nó cũng phản ánh năng lực của Hòa Phát trong việc kiếm tiền từ các tài sản đất đai tích lũy lâu năm, một dạng dự trữ giá trị mà các tập đoàn công nghiệp lớn thường có nhưng ít được phản ánh trên báo cáo lãi lỗ thường kỳ.
4. Động lực thực: Dung Quất 2, thuế chống bán phá giá, sóng đầu tư công 8,5 triệu tỷ
Tách phần lợi nhuận bất thường ra, mảng thép cốt lõi của Hòa Phát vẫn ghi nhận tăng trưởng 55% là nhờ ba động lực thực, có khả năng tái lập trong các quý tiếp theo.
Thứ nhất, Khu liên hợp gang thép Dung Quất 2 chính thức vận hành toàn bộ trong năm 2026, đưa tổng công suất thép thô của Hòa Phát lên 15,4 triệu tấn/năm và dự kiến đạt 16,5 triệu tấn vào năm 2027. Đây là dự án quy mô 6 triệu tấn HRC mỗi năm, tổng vốn đầu tư 85.000 tỷ đồng. Hiệu suất vận hành Q1/2026 đạt khoảng 65%, dư địa nâng công suất còn rất lớn. Riêng sản lượng HRC của tập đoàn Q1/2026 tăng 82% YoY, kéo thị phần HRC nội địa lên 63%, mức chiếm lĩnh chưa từng thấy.
Thứ hai, ngày 17/04/2026, biện pháp thuế chống bán phá giá HRC khổ rộng có xuất xứ từ Trung Quốc chính thức có hiệu lực, với mức thuế 27,83%. Biện pháp này nối tiếp các quyết định thuế chống bán phá giá AD19 và AD20 đã được áp dụng từ năm 2025. Theo dự báo của ban lãnh đạo Hòa Phát, lượng HRC nhập khẩu khổ rộng dự kiến giảm từ 6 triệu tấn năm 2025 xuống còn khoảng 2 triệu tấn trong năm 2026, tạo dư địa khoảng 4 triệu tấn cho các nhà sản xuất nội địa lấp vào.
Thứ ba, sóng đầu tư công giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt quy mô 8,5 triệu tỷ đồng, cao hơn nhiều so với mức 2,87 triệu tỷ kế hoạch và mức thực hiện ước 2-2,1 triệu tỷ giai đoạn 2021-2025. Riêng năm 2026, Thủ tướng giao kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách hơn 995.000 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 31/03/2026, giải ngân đạt 11% kế hoạch, cao hơn 1,2 điểm phần trăm và cao hơn 29.981,4 tỷ đồng so với cùng kỳ. Cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 2, sân bay quốc tế Long Thành, các tuyến vành đai đô thị là những đầu kéo tiêu thụ thép xây dựng và thép kết cấu trong nhiều năm tới.
Hòa Phát đã bắt đầu đón đầu chu kỳ này. Tập đoàn đẩy nhanh tiến độ nhà máy sản xuất thép đường ray và thép kết cấu chuyên dụng, kế hoạch vận hành Q1/2027, để cung cấp vật liệu cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam. Đồng thời khởi động ba dự án tại tỉnh Đắk Lắk với tổng vốn 120.000 tỷ đồng, trọng tâm là Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Phú Yên quy mô 6 triệu tấn/năm. Khi hoàn thành, công suất sản xuất thép của Hòa Phát đạt 22 triệu tấn/năm, tương đương top 30 thế giới.
Tổng giám đốc Nguyễn Việt Thắng đưa ra quan điểm dài hạn: trong 5 năm tới, nhu cầu thép Việt Nam tăng trưởng 10% mỗi năm, từ năm 2027 công suất Hòa Phát đạt 16 triệu tấn. Phát biểu này hàm ý CAGR 10% là kịch bản cơ sở của doanh nghiệp đầu ngành, cao hơn dự báo VSA cho năm 2026 (8-10%).
5. CBAM, hạn ngạch EU và bức tranh xuất khẩu đang thu hẹp
Câu chuyện thuế chống bán phá giá nội địa đi cùng một bức tranh ngược chiều ở thị trường xuất khẩu. Sản lượng thép xuất khẩu Q1/2026 giảm 26% YoY, nối tiếp xu hướng đã hình thành từ năm 2025 (cả năm 2025 sản lượng xuất khẩu giảm 38,6%). Nguyên nhân không chỉ là chi phí cước biển. Hai rào cản kỹ thuật của EU đang định hình lại bức tranh dài hạn.
Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Đây là chứng chỉ hàng rào kỹ thuật xanh đánh thuế lên lượng phát thải carbon gắn với hàng hóa nhập khẩu, áp dụng cho sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro. Doanh nghiệp xuất khẩu thép sang EU phải có báo cáo phát thải đầy đủ, dẫn đến chi phí tuân thủ tăng đáng kể đối với các nhà sản xuất sử dụng công nghệ lò cao truyền thống.
Tiếp theo, từ ngày 01/07/2026, EU dự kiến áp dụng cơ chế thu hẹp hạn ngạch và siết chặt quy định về xuất xứ đối với thép nhập khẩu. Mục tiêu của cơ chế này là bảo vệ ngành thép nội địa EU khỏi áp lực dư cung từ Trung Quốc và các nước châu Á. Việt Nam, dù không phải đích nhắm chính, vẫn chịu hiệu ứng lan tỏa do bị giảm hạn ngạch.
Trong khi đó, các thị trường khác cũng đang siết: Mỹ và EU đã áp các biện pháp phòng vệ thương mại; Australia mở điều tra với thép mạ kẽm Việt Nam; Mexico mở điều tra chống bán phá giá nhựa PET có xuất xứ Việt Nam. Tổng thể, không gian xuất khẩu cho thép Việt Nam đang bị thu hẹp đáng kể.
Hòa Phát công bố quan điểm tự tin về CBAM nhờ hai yếu tố: lộ trình khử carbon dài hạn và việc duy trì báo cáo phát thải trong hai năm liên tiếp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thép nhỏ hơn không có quy mô để hấp thụ chi phí tuân thủ này, dẫn đến rủi ro phân hóa nội ngành ngày càng rõ.
6. Phân hóa lợi nhuận và chất lượng tăng trưởng
Theo báo cáo tổng hợp của Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS), lợi nhuận toàn ngành thép năm 2026 dự báo tăng 22%. Tuy nhiên, sự phân bổ lợi nhuận này không đồng đều. Lợi thế lớn nhất thuộc về các doanh nghiệp sở hữu quy mô sản xuất thượng nguồn, đặc biệt là chuỗi sản xuất khép kín từ quặng sắt đến sản phẩm hạ nguồn.
Hòa Phát đặt mục tiêu năm 2026 doanh thu 210.000 tỷ đồng, tăng 32,6% so với năm 2025. Lợi nhuận sau thuế kế hoạch 22.000 tỷ đồng, tăng 41,8%. Chủ tịch Trần Đình Long tiết lộ ban điều hành đã tự đặt mục tiêu phấn đấu nội bộ cao hơn, hướng tới 23.000 tỷ. SSI Research đi xa hơn, dự báo LNST năm 2026 đạt 25.900 tỷ (đã điều chỉnh từ 21.000 tỷ trước đó); LNST cốt lõi loại trừ thu nhập bất thường ước đạt 22.800 tỷ, tăng 47% YoY.
Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp thép tầm trung đặt kế hoạch khiêm tốn hoặc giảm. Công ty Cổ phần Ống thép Việt Đức VG PIPE lên kế hoạch lợi nhuận trước thuế giảm 51% còn 124,5 tỷ. Công ty Cổ phần Quốc tế Phương Anh đặt mục tiêu lãi trước thuế 6,8 tỷ, giảm 49,6%. Sự phân hóa này phản ánh cấu trúc thị trường: các doanh nghiệp không có lợi thế quy mô và tích hợp dọc đang phải chấp nhận biên lợi nhuận mỏng dần.
Theo FiinTrade, ngành thép Q1/2026 ghi nhận tăng trưởng LNST cao nhất trong nhóm phi tài chính, đạt 169,6% YoY. Tuy nhiên, FiinTrade cũng lưu ý rằng với ngành thép, mức tăng trưởng cao phần lớn được dẫn dắt bởi HPG, trong đó khoản thu từ chuyển nhượng dự án Khu đô thị tại Hưng Yên đóng góp khoảng 42% tổng lợi nhuận quý, tạo hiệu ứng tăng trưởng đột biến. Trong các quý tiếp theo, khi yếu tố một lần này không lặp lại, mức tăng trưởng LNST của ngành dự kiến sẽ về sát với tăng trưởng cốt lõi (ước khoảng 50-55% YoY).
Đối với nhà đầu tư và đối tác thương mại, bài học cốt lõi là cần đọc số tổng cùng với cấu thành. Tăng trưởng 170% YoY của Hòa Phát Q1/2026 là tăng trưởng kế toán hợp lệ, nhưng tăng trưởng cốt lõi 55% mới là chỉ báo có khả năng tái lập. Tương tự, tăng trưởng 169,6% LNST toàn ngành bao gồm cả phần đặc thù của HPG, không phản ánh mặt bằng chung.
Câu hỏi mở dành cho các quý sắp tới: Khi yếu tố một lần được loại trừ, tăng trưởng cốt lõi của ngành thép Việt Nam có thể duy trì ở mức 50-55% trong cả năm 2026, hay sẽ chững lại khi tốc độ giải ngân đầu tư công không đạt như kế hoạch tham vọng (995.000 tỷ đồng cả năm)? Và liệu sự chiếm lĩnh thị phần HRC từ 47% lên 63% của Hòa Phát có phải là trạng thái bền vững, hay chỉ là khoảng trống tạm thời do thuế chống bán phá giá tạo ra trước khi các nhà sản xuất khác điều chỉnh chiến lược?
Nguồn dữ liệu: Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) báo cáo Q1/2026 ngày 27/04/2026; Đại hội đồng cổ đông thường niên Tập đoàn Hòa Phát ngày 21/04/2026; Báo cáo tài chính kiểm toán Hòa Phát năm 2025; Quyết định 1618/QĐ-UBND tỉnh Hưng Yên ngày 27/06/2025; FiinTrade báo cáo lợi nhuận Q1/2026; SSI Research, VCBS, MBS, VDSC báo cáo cập nhật ngành thép tháng 4/2026; Bộ Tài chính báo cáo giải ngân đầu tư công Q1/2026; Bộ Công Thương quyết định thuế chống bán phá giá HRC khổ rộng có hiệu lực 17/04/2026.
Biên soạn bởi: Trevor Tran VANGUARD BUSINESS INFORMATION vnbis.com | baocaocongty.com | baocaonganh.com